Hiển thị các bài đăng có nhãn blao. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn blao. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 28 tháng 12, 2010

Ngọt ngào hương sắc B'Lao (Phần 2)

Phần 2 quỷ viết một chút chuyên sâu về xứ trà B'Lao.
Quay ngược dòng lịch sử thì khoảng năm 1927 cây trà đã có mặt tại Lâm Đồng, chỉ 3 năm sau, những cây trà đầu tiên đã xuất hiện ở Bảo Lộc  khi người Pháp xây dựng tuyến đường Quốc lộ 20.


Cũng từ đó những nông trường trà dần xuất hiện, những cái tên như Felit B'Lao, B'Lao Sierre' và những vườn trà nhỏ của các hộ dân bắt đầu dần xuất hiện. Ông ngoại của quỷ hồi đó cũng từng làm điền chủ đồn điền trà B'Lao Sierre.


Thời điểm đó xứ Đàng ngoài thì có trà Bắc Thái là nổi tiếng, còn xứ Đàng trong là B'Lao. Trà B'Lao khác với trà bắc là có ướp hương, thường ướp hương sen, sói, lài, ngâu. Và cũng chính B'Lao được xem như là cái nôi của ngành trà ướp hương Việt Nam.


Mà tổ của trà ướp hương có thể xem là cụ Nguyễn Thị Sâm chủ doanh nghiệp trà Đỗ Hữu nổi tiếng một thời với biểu tượng 2 chim câu trắng trên bao bì.
Nói đúng ra thì trà ướp hương cũng đã có từ lâu nhưng chưa phổ biến và chỉ là thú chơi sành điệu của giới quý tộc và cung đình.
Như vua Minh Mạng uống trà sen là buổi chiều khi mặt trời tắt nắng, mới cho cung nữ tắm rửa sạch sẽ để mùi tránh áp lên trà, rồi chèo thuyền ra hồ sen. Tìm những búp sen to và đẹp nhất rồi bỏ vào đó một nhúm trà, sau lấy dây cỏ mà buộc lại. trà được ủ "sống" một đêm hấp thụ hết hương thơm của sen.


Rồi sáng hôm sau khi mặt trời chưa mọc lại chèo thuyền đi mở từng búp sen lấy trà về mà pha. Nước cũng là hứng sương đọng trên lá, coi như hấp thụ tinh hoa của đất trời. Nghĩ lại thấy ngày xưa nghề chơi thật lắm công phu mà chỉ những bậc vương giả mới có thể hưởng thụ chứ không như bây giờ.


Nhớ lại những năm 1930, B'Lao chỉ có 8 hộ dân. Năm 1954 cũng chỉ 15000 người. Không tìm thấy những đồi chè xanh bạt ngàn mà chủ yếu chỉ là từng vùng riêng lẻ, co cụm. Thì nay đã khác rất nhiều. Những rừng cây ngã xuống cho những đồi chè mọc lên, muôn thú dần biến mất cho sự xuất hiện đông đúc của con người.


Ngày nay rảo bước trên những nương chè không cần phải đem theo dao quắm như ngày xưa để phòng thú dữ, mà đã ung dung thong thả ngắm trời mây. Nhớ mẹ kể những năm 1965 đêm năm ngủ mà cọp quào ngoài cửa nhà.




















Ngọt ngào hương sắc B'Lao (Phần 2)

Phần 2 quỷ viết một chút chuyên sâu về xứ trà B'Lao.
Quay ngược dòng lịch sử thì khoảng năm 1927 cây trà đã có mặt tại Lâm Đồng, chỉ 3 năm sau, những cây trà đầu tiên đã xuất hiện ở Bảo Lộc  khi người Pháp xây dựng tuyến đường Quốc lộ 20.


Cũng từ đó những nông trường trà dần xuất hiện, những cái tên như Felit B'Lao, B'Lao Sierre' và những vườn trà nhỏ của các hộ dân bắt đầu dần xuất hiện. Ông ngoại của quỷ hồi đó cũng từng làm điền chủ đồn điền trà B'Lao Sierre.


Thời điểm đó xứ Đàng ngoài thì có trà Bắc Thái là nổi tiếng, còn xứ Đàng trong là B'Lao. Trà B'Lao khác với trà bắc là có ướp hương, thường ướp hương sen, sói, lài, ngâu. Và cũng chính B'Lao được xem như là cái nôi của ngành trà ướp hương Việt Nam.


Mà tổ của trà ướp hương có thể xem là cụ Nguyễn Thị Sâm chủ doanh nghiệp trà Đỗ Hữu nổi tiếng một thời với biểu tượng 2 chim câu trắng trên bao bì.
Nói đúng ra thì trà ướp hương cũng đã có từ lâu nhưng chưa phổ biến và chỉ là thú chơi sành điệu của giới quý tộc và cung đình.
Như vua Minh Mạng uống trà sen là buổi chiều khi mặt trời tắt nắng, mới cho cung nữ tắm rửa sạch sẽ để mùi tránh áp lên trà, rồi chèo thuyền ra hồ sen. Tìm những búp sen to và đẹp nhất rồi bỏ vào đó một nhúm trà, sau lấy dây cỏ mà buộc lại. trà được ủ "sống" một đêm hấp thụ hết hương thơm của sen.


Rồi sáng hôm sau khi mặt trời chưa mọc lại chèo thuyền đi mở từng búp sen lấy trà về mà pha. Nước cũng là hứng sương đọng trên lá, coi như hấp thụ tinh hoa của đất trời. Nghĩ lại thấy ngày xưa nghề chơi thật lắm công phu mà chỉ những bậc vương giả mới có thể hưởng thụ chứ không như bây giờ.


Nhớ lại những năm 1930, B'Lao chỉ có 8 hộ dân. Năm 1954 cũng chỉ 15000 người. Không tìm thấy những đồi chè xanh bạt ngàn mà chủ yếu chỉ là từng vùng riêng lẻ, co cụm. Thì nay đã khác rất nhiều. Những rừng cây ngã xuống cho những đồi chè mọc lên, muôn thú dần biến mất cho sự xuất hiện đông đúc của con người.


Ngày nay rảo bước trên những nương chè không cần phải đem theo dao quắm như ngày xưa để phòng thú dữ, mà đã ung dung thong thả ngắm trời mây. Nhớ mẹ kể những năm 1965 đêm năm ngủ mà cọp quào ngoài cửa nhà.




















Thứ Hai, 27 tháng 12, 2010

Ngọt ngào hương sắc B'Lao (Phần 1)

Lần này trở về B'Lao trong tâm trạng háo hức, bởi quê hương đang rộn ràng nhộn nhịp chào đón ngày hội tôn vinh những người làm trà. Cố gắng giải quyết mọi công việc, song nhiều quá nên đến tận 12g đêm mới rời Sài Gòn. không biết sao mà chuyến về lần này bão táp quá. Đầu tiên là lủng bánh xe lúc 2g30 sáng, dẫn bộ lang thang trong đêm, chai mặt đập cửa mấy tiệm sửa xe nhưng không ai rủ lòng thương, đến 3g30 sáng mới nhờ được một anh sửa xe tốt bụng chịu dậy vá giùm. Tưởng là yên thân, ai dè họa đơn chí, qua Madagui lại bị té xe. Hix, về đến Bảo Lộc là 6g30 sáng. Một đêm thật mệt mỏi. Sẵn đang cái xui thì nói luôn. Lúc quay về SG bị công an bắn tốc độ 2 lần dính hết mà hạn chế 40km/g mới đau. Túm lại, chuyến đi này đầy bão táp.

Về Bảo Lộc vì lễ hội trà, nhưng cũng vì lễ hội trà mà thất vọng tràn trề. Trước giờ khoe tốt nhiều rồi, nhưng cái xấu cũng phải nhìn nhận thôi. Lễ hội tổ chức hết sức lôi thôi, nhếch nhác, tạm bợ. Các tỉnh bạn chắc đã chán ngán nhiều rồi nên không có tỉnh nào tham gia. Khu trưng bày trà chỉ có lác đác vài doanh nghiệm xóm nhà ra vô chào nhau. Các lễ hội thì rời rạc và hình thức. Du khách đến chắc cũng chẳng biết đường nào mà lần. Thiệt tình là gần như  chẳng có cái gì được tôn vinh hết, chán nản vô cùng.

Song có lẽ với lòng thiên vị quê hương và tự tìm vui trong cái nhìn riêng nên những chuyện buồn trên trở nên nhỏ nhoi. Không bao giờ quên được hình ảnh phố núi ẩn mờ sau làn sương trông ánh bình minh khi vừa đến "nhà".


Trời lạnh căm căm, hai tay cóng hết, cả người đau nhức chỉ muốn về ngủ, song tất cả tan biến như sương trước cảnh núi rừng say giấc
Phố nhỏ còn mê ngủ đến sương cứ phủ thế mà chẳng dám tan chỉ e kinh động.
Cứ vậy, đứng lặng tần ngần mãi không thôi, quên cả cái lạnh cái đau, gió không rào rạt như mọi lần mà khe khẽ mơn man.


Với ai thì không biết nhưng riêng quỷ thì có lẽ cuộc thi hái chè và tham quan nông trường chè là điểm nhấn cứu vớt thể diện cả lễ hội bớt chút hư danh.


Ở Bảo Lộc bao nhiêu năm rồi, đi lang thang biết bao đồi chè song chưa lúc nào cảm xúc lại ngận tràn như lần này. Những đồi chè  B'Lao hiện ra trong tầm mắt nhưng lòng người sao cứ như lạc đến tận xứ nào.


Những đường chân trời mới được định nghĩa nơi xứ trà.


Đứng giữa nương chè xanh, phóng tầm mắt nhìn rộng khắp, xa xa mặt hồ nước xanh trong vắt, chập trùng đồi chè.


Đây một vòng cong đất đỏ bazan như ôm, như cuốn như gói trọn cái tình cửa người lữ khách.


Lang thang xuống hồ, chút gió cho sóng nước lao xao, lòng người đang buồn bực rối rắm đầy nhánh nhóc bỗng dần buông lơi.


khẽ nhắm mắt để cảm nhận bình yên dần lan tỏa trong tâm hồn, chỉ còn chút khẽ lao xao để biết mình vẫn đang hiện hữu.


trong một vùng khôn gian rộng lớn mùi hương trà non thoang thoảng mà ngai ngái, cái vị không nếm bằng lưỡi mà bằng mắt, bằng tay.


Trộm nghĩ, cuộc sống vốn dĩ quá bon chen tất bật nên người họa sĩ thường vẽ những khung cảnh bình yên để tìm chút lặng trong tâm hồn. Nếu như những người họa sĩ ấy có đứng ở đây chắc hẳn phải ngại ngùng buông cọ.


rồi đứng lặng tần ngần và miên man suy nghĩ: "Chưa từng quen biết mà sao tạo hóa lại tặng ta cái tình triền miên đến vậy!"


Nhìn những đám hoa dại trên mặt nước bỗng lại nghỉ đến "Hoa lưu ly bên hồ".


Viết đến đây vị ngọt đã gắt quá cuống họng rồi, phải nghĩ tạm chút. Uống miếng nước rồi thong dong viết tiếp.

Thứ Hai, 1 tháng 11, 2010

Phố núi B'Lao: Mùa này hoa có vàng nơi ấy.

Bảo Lộc chỉ có 2 mùa; mưa và nắng. Mùa này Bảo Lộc lại bắt đầu mưa, những cơn mưa kéo dài ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác. Mưa là một phần linh hồn của con người, là sức sống của đất trời nơi phố núi bình yên này.
Mùa mưa Bảo Lộc cũng là mùa dã quỷ nở rộ.


Chẳng biết từ bao giờ loài hoa này lại về đây ngự trị, nhớ ngày xưa dã quỳ phủ đầy khắp nơi, quanh nhà cũng dã quỷ, những con đường mòn, những đồi chè xanh, bất cứ đâu cũng thấy dã quỳ.


Theo thời gian, năm tháng trôi qua, bắt đầu có nhiều người di cư và đến lập nghiệp, mảnh đất hoang vu nay dần nhộn nhịp,


Những con đường đất đỏ lầy lội dần thay bằng đường nhựa sạch sẽ, hàng loạt cây cổ thụ ngã xuống cho công trình xây dựng, và những đồi hoa dã quỳ cũng dần biến mất cho những ngôi nhà mọc lên.


Dã quỳ bắt đâu không còn túm tụm cùng nhau nữa, không còn những vạt vàng chạy dài tít tắp mà bắt đầu co cụm rời rạc lác đác. Dường như nỗi mặc cảm của một loài hoa không hương bắt chúng phải cam chịu với sự tàn phá mà không chút oán than.


Sau những cơn mưa, mặt trời lại hé chút nắng hiếm hoi. cứ khi nắng vội vã đuổi nhau lướt trên từng cánh hoa, dã quỳ lại nhìn theo buồn bã bởi biết ấm áp không ở lâu và rồi sẽ lại hứng chịu mưa sương giá rét.


Có ai biết đã bao mùa dã quỳ đến rồi đi, Những cánh hoa vàng rực mỏng manh nhưng sức sống mãnh liệt. Cứ mỗi đêm mưa giông gió rét sáng ra nhìn dã quỳ xơ xác nằm rạp  thì đến chiều hay hôm sau lại vươn mình đứng dậy.


Dã quỳ còn là chiếc vương miện đội đầu của những cô thiếu nữ hay là vòng bánh xe quay của những chú bé tinh nghịch.



Dã quỳ không có cái cao ngạo như hướng dương, chỉ ngẩng cao hướng về mặt trời.


mà luôn e ấp dịu dàng, mong manh như người con gái yếu ớt nhưng có tính khí quật cường mạnh mẽ.


"Vàng không thể vàng hơn nữa
Những cánh mở tung một phương trời
Không có lửa mà đốt lòng tôi như lửa
Suốt chân đèo ngược dốc mỏi lúc chiều rơi" (Thơ TKT)



"Lá rụng xôn xao hun hút ngã ba đường
Thời thơ dại tay lùa trong tóc rối


Màu dã quỳ hoang dại để tôi thương
Vàng đến trăm năm cuộc tình sương khói"


"Để lại nơi ấy biết bao mùa mộng tưởng
Kỷ niệm nghìn trùng, lớp lớp sắc vàng phai."


"Nay đã lớn nhưng lòng còn thơ trẻ
Nhớ tháng ngày vui vẻ tuổi thần tiên
Xưa chẳng biết để lớn rồi luyến tiếc
Tiếc góc xưa cho ta mãi đi tìm"



"Khoát vai nhau gặp ánh mặt nụ cười
Hồn nhiên thế lòng chợt thèm quay lại
Dưới mái trường chở che đời muôn lối
Sẽ thấy mình không lạc lõng mù khơi"



(Bài viết có sử dụng một số bài thơ sưu tầm từ internet)